Con người chết sẽ đi về đâu?

Con người chết sẽ đi về đâu?

 

Các bạn có thấy quả cam, hay hạt lúa hay bất kì quả gì ở trên cây đó không? Khi quả hay hạt rụng xuống đất thì sẽ ra sao? Quả hay hạt sẽ tan hoại và hạt lại cắm vào đất chờ có duyên lành là nước và ánh nắng để rồi lại lên cây cam, cây lúa. Vậy nó già rụng nó đâu có chết mà lại thành một cây khác. 


Phật thuyết pháp môn niệm Phật các vua cõi trời cũng đến nghe Phật thuyết pháp rồi y giáo phụng hành.

 

Các bạn đồng tu thân mến! 
 

Nhiều người đến chùa từ bé mà cho đến giờ vẫn thắc mắc có phải chết là hết không? Nếu chết không phải là hết thì con người sẽ lại đi về đâu? Câu hỏi này rất hay, tôi xin trả lời bạn như sau đây.

 

Có phải chết là hết?

 

Các bạn có thấy quả cam, hay hạt lúa hay bất kì quả gì ở trên cây đó không? Khi quả hay hạt rụng xuống đất thì sẽ ra sao? Quả hay hạt sẽ tan hoại và hạt lại cắm vào đất chờ có duyên lành là nước và ánh nắng để rồi lại lên cây cam, cây lúa. Vậy nó già rụng nó đâu có chết mà lại thành một cây khác. 

 

Con người ta khi già nua hay khi ốm đau, thân thể này tan hoại nhưng thần thức (người ta vẫn gọi là linh hồn) vẫn còn đó, nó lại bắt đầu một cuộc sống mới qua 6 ngả sau: 
 

Nếu có phước, nó sinh vào ba đường: 
 

1. Đầu thai làm một thân hình khác.

2. Được sinh lên cõi trời làm Tiên, Thánh.

3. Làm loài A-Tu-La. 

 

Nếu khi sống làm việc ác thì đọa vào ba đường là:
 

4. Bị là loài Ngạ-quỷ (tức quỷ đói).

5. Làm loài Sức sinh (đầu thai làm loài thú vật).

6. Bị đọa trong Địa ngục. 

      

Tất cả 6 đường này cứ tiếp diễn đi, tiếp diễn lại nên gọi đó là lục đạo luân hồi, còn nếu tu hành giữ giới thì thành: 
    

 

* Với hàng tu Tiểu thừa thì quả vị cao nhất là: các bậc Thanh Văn là A Na Hàm, A La Hán; với bậc Duyên Giác (Tích Chi Phật). 
 

* Với hàng tu Đại thừa thì thành Bồ tát, thành Phật. 

 

Để các bạn dễ hiểu, dễ tự quán chiếu, tôi sẽ kể cho bạn một câu chuyện các nhà sư vẫn kể cho nhau nghe để các bạn tự quán xét nhé. 

  

Ngày xưa, ở trong một ngôi chùa cổ, có một vị sư già sinh sống cùng một số hòa thượng trẻ tuổi. Một hôm, có một thanh niên trẻ tuổi đi vào chùa với vẻ mặt u sầu, buồn bã. Vị sư già hỏi anh ta: “Phải chăng thí chủ đang có tâm tư gì buồn phiền?”

   

Người thanh niên trẻ tuổi nói: “Cha của con bị bệnh vừa qua đời. Con cảm thấy vô cùng đau khổ. Cha con là người tốt, vì sao mà không thể sống lâu hơn được chứ?”. Vị sư già ân cần nói: “Chẳng phải thí chủ vẫn thường đến đây nghe kinh sao?”. Người trẻ tuổi nói: “Đúng vậy! Mỗi lần thầy mở lớp giảng kinh, con đều đến nghe!”

   

“Nếu đã thế thì hẳn là thí chủ từng nghe ta giảng qua về “sinh, lão, bệnh, tử”, đạo lý nhân sinh vô thường (không ổn định, luôn thay đổi). Con người đến thế gian này, tuổi tác là có hạn!”.“Những điều thầy giảng con đều hiểu. Nhưng con vẫn cảm thấy cha con ra đi khi tuổi còn chưa phải là già”.

  

Vị sư già nói: “Độ dài ngắn của sinh mệnh, không phải lấy tuổi mà xác định được, mà là xem duyên của người ấy ở nhân gian được bao nhiêu thì sinh mệnh dài bấy nhiêu. Nếu hết duyên thì phải ra đi một phút một giây không thể ở lại, nếu con duyên thì dù già yếu như ngọn đèn leo lắt mà chẳng tắt”.

 

Người trẻ tuổi lại hỏi: “Thưa thầy! Thầy xem cha con ra đi, sẽ được lên thiên đường hay phải xuống địa ngục! Xin thầy hãy gia trì cầu nguyện cho cha con, giúp ông được vãng sinh đến thiên đường, nếu không con sẽ rất khổ sở, không thể an tâm”.

  

Vị sư già cảm thấy giờ phút này ông có nói cho người trẻ tuổi kia bao nhiêu đạo lý cũng là vô dụng, bởi vì phiền não đã chiếm hết tâm trí của anh ta rồi. “Người con vừa có hiếu lại có tâm như thí chủ đây thật là hiếm có. Ta nhất định sẽ gia trì cầu nguyện giúp cho cha của thí chủ, nhưng thành tựu hay không là nhờ vào phước báo của ông và sự hiếu thảo của thí chủ. Giờ về nhà, thí chủ phải làm đúng như lời ta dặn thì mới được”. 

   

Người thanh niên trẻ tuổi vui vẻ đồng ý. Vị sư già bảo người thanh niên trẻ lấy hai chiếc nậm đến. Sau đó ông đổ đầy dầu vào một chiếc nậm và một chiếc nậm khác thì đựng đầy đá, rồi nói: “Được rồi! Giờ chúng ta cùng ra bờ sông, thí chủ hãy về gọi thêm một số người thân thích và họ hàng đến cùng”. Người thanh niên trẻ tuổi mừng rỡ, lập tức về gọi hàng xóm và người thân ra bờ sông. Vị sư già mang hai chiếc nậm thả xuống dòng sông, sau đó lại đập vỡ hai chiếc nậm ấy.

   

Sau khi bị đập vỡ, chiếc nậm đựng đá liền vỡ ra thành từng mảnh và cùng với đá chìm xuống đáy biển. Chiếc nậm đựng dầu sau khi vỡ ra thì những mảnh vỡ chìm xuống biển, còn dầu lại nổi lên trên mặt nước. Vị sư già nói với mọi người: “Bây giờ chúng ta cùng thành tâm cầu nguyện cho những viên đá kia nổi lên trên và dầu chìm xuống dưới nước”.

   

Lời vừa dứt, mọi người ai nấy nhìn nhau vừa khó hiểu vừa buồn cười. Bởi vì họ biết rằng, cho dù có cầu nguyện đến bao giờ đi nữa thì đá cũng không thể nổi lên trên mặt nước và dầu chìm xuống dưới được.

   

Giữa lúc mọi người đang bàn luận sôi nổi, vị sư già mỉm cười nói: “Làm việc thiện giống như thả dầu trên mặt nước hồ, làm việc ác giống như ném đá xuống hồ vậy. Khi sinh mệnh kết thúc, thiện nghiệp sẽ thăng lên mà đi, ác nghiệp sẽ chìm xuống đáy. Đây là đạo lý không thể thay đổi. Nếu con thụ trì Kinh Niệm Phật Ba La Mật, con sẽ thấu rõ điều này qua lời Phật Thích Ca Mâu Ni chỉ dạy. 

 

Hãy tụng kinh này và cha thí chủ còn trong giai đoạn rất quan trọng của 49 ngày, thí chủ hãy giữ gìn chay giới, không được sát sinh, thực hành phóng sinh thú vật, in kinh, đúc tượng Phật, cúng dường tịnh tài hay công sức để xây pháp dường, hoằng dương Phật pháp làm lợi ích cho mọi người rồi đem tất cả công đức đó mà hồi hướng cho ông. Nếu làm được như thế, như Phật dạy trong Kinh Địa Tạng chắc chắn cha thí chủ không bị đọa vào ba đường ác mà kém nhất cũng được tái sinh làm người trong nhà quyền quí, giàu có; hoặc phước hơn là được sinh lên cõi Trời nhập vào hàng Tiên, Thánh. 

 

Nếu trong đời ông đã quy y Tam Bảo, trì danh niệm Phật A Di Đà thì sẽ được Phật đến tiếp dẫn về Tây Phương Cực Lạc, sinh trên sen báu mà tu hành thành Bồ Tát Bất Thối, thành Phật con nhé! Người thanh niên nghe lời thầy nói hoan hỉ hứa về nhà sẽ y giáo phụng hành lời thầy đã chỉ bảo. 

  

Các bạn đồng tu thân mến! 

  

Con người ai cũng có nghiệp riêng của mình đã tạo ra khi còn sống và sẽ theo nghiệp đó mà đi. Con người chỉ có thể thay đổi vận mệnh nghiệp của mình thông qua những việc làm công đức như in ấn kinh điển, tu bổ chùa chiền, xây cất pháp đường cho người khác đến học tập giáo lý kinh điển để tu hành cầu giải thoát. Những việc làm đó là đầy trí tuệ, nó như dầu được tích chứa trong nậm sành, để khi nếu có vỡ thì bình nậm vỡ, bị hủy hoại mà dầu vẫn cứ nổi trên nước. 

  

Làm việc công đức tốt chính là tạo ra phước báo để khi mãn báo thân, thân này có mất thì thần thức được về cảnh giới lành dù thân tứ đại sẽ bị hủy hoại. Nhưng chúng ta nên nhớ là khi về cảnh giới chư thiên hưởng phước báo, nhưng khi phước báo hưởng hết lại phải chịu đầu thai cõi nhân gian, lại phải chịu sinh tử luân hồi như thường. Vì thế, phải biết kết hợp việc làm công đức với việc tu hành, trì danh niệm Phật để cầu pháp xuất thế gian mà về với Phật A Di Đà, tu hành mau thành Bồ Tát Bất Thối, thành Phật mới là pháp rốt ráo. 

 

Hồn lìa khỏi xác xuất hiện khi con người rơi vào trạng thái thái cận tử nghiệp.    

 

Nếu bạn làm việc công đức, lại tinh tấn trì niệm danh hiệu Phật A Di Đà, một lòng cầu nguyện vãng sinh Tây Phương Cực Lạc, thì khi mạng chung Phật A Di Đà cùng đức Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát cùng hàng Thánh chúng đến tiếp dẫn bạn về Tây Phương Cực Lạc, sinh trên sen báu, tu hành một đời thành Bồ Tát, thành Phật. Như thế người tu Tịnh độ khi mạng chung là họ sống mà đi, chứ không phải chết mà ra ngoài đồng nằm dưới hai mét vuông đất như người không tu hành. 
 

Để chứng minh điều này với các bạn, tôi xin trích dẫn một đoạn trong phẩm Duyên Khởi của Kinh Niệm Phật Ba La Mật mà Cư sĩ Diệu Nguyệt đã thay chúng ta hỏi Phật về những vấn đề trên đây như sau, để các bạn tự đối chiếu nhé. 

           

Kinh Niệm Phật Ba La Mật, Phẩm Duyên Khởi

  

Chính tôi được nghe như thế này: Một thuở nọ, đức Phật kiết hạ tại núi Kỳ Xà Quật, gần thành Vương Xá với chúng đại Tỳ kheo một muôn hai nghìn người. Đó là các vị trưởng lão Xá Lợi Phất, Ma Ha Mục Kiền Liên, Ma Ha Ca Diếp, Ma Ha Ca Chiên Diên, Tu Bồ Đề, La Hầu La, Phú Lâu Na, A Nan, A Nan Đà, Ma Ha Ba Xà Ba Đề, Gia Du Đà La v.v... 

 

Lại có tám muôn vị Đại Bồ Tát ở khắp mười phương cùng đến tham dự. Đó là các ngài: Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát, Địa Tạng Bồ Tát, Diệu Âm Bồ Tát, Đại Cường Tinh Tấn Dũng Mãnh Bồ Tát, Đà La Ni Tự Tại Công Đức Lâm Bồ Tát, Trang Nghiêm Vương Bồ Tát... Tất cả đều có năng lực thâm nhập vô lượng tam muội môn, tổng trì môn, giải thoát môn, đã chứng pháp thân, đắc ngũ nhãn, biện tài vô ngại, thần thông du hý, biến hiện đủ loại thân tướng khắp các quốc độ để cứu vớt chúng sinh.

    

Lại có vô lượng Đại Phạm Thiên Vương, Tự Tại Thiên Vương, Đế Thích Thiên Vương, Đâu Suất Thiên Vương, Đao Lợi Thiên Vương cùng vô số quyến thuộc dự hội.

    

Lại có Long Vương: Khẩn Na La Vương, Càn Thát Bà Vương, A Tu La Vương, Ca Lâu La Vương... cùng vô số quyến thuộc câu hội.

   

Lại có quốc mẫu Vi Đề Hy hoàng thái hậu và vua A Xà Thế cùng hoàng tộc, quần thần câu hội.

   

Lại có hơn năm trăm vị Trưởng giả Cư sĩ của thành Vương Xá cùng vô số quyến thuộc câu hội. Tất cả đại chúng đều cung kính cúi lạy dưới chân Phật, rồi lui ngồi một bên.

   

Lúc bấy giờ, trong hàng Ưu bà tắc có một vị trưởng giả tên là Diệu Nguyệt, trú ngụ tại thành Vương Xá, từng quy y Tam Bảo và thọ trì năm giới cấm, cùng đến dự pháp hội. Vị trưởng giả này từ vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp quá khứ từng gần gũi thừa sự cúng dường vô lượng vô biên muôn ức hằng hà sa đức Phật, y theo chánh pháp mà tu hành. Hiện tại làm thân cư sĩ, vợ con đông nhiều, nhà cửa nguy nga, kho đụn đầy rẫy. 

 

Tuy ở giữa cảnh ràng buộc mà vẫn trưởng dưỡng tâm trí giải thoát. Tuy hưởng dụng ngũ dục thế gian, nhưng vẫn hoài bão đại nguyện độ sinh của chư đại Bồ tát. 

   

Tuy ở trong chốn bùn lầy dơ bẩn mà vẫn sẵn sàng xả ly thân mạng tài sản, quyến thuộc để gieo trồng hạt giống Bồ đề. Tuy ở trong căn nhà lửa chập chùng hiểm nạn mà vẫn thực hành tuệ giác vô lậu, hết lòng thương tưởng chúng sinh như con một, thể hiện pháp thí oán thân bình đẳng. 

  

Trưởng giả Diệu Nguyệt từ trong đại chúng bước ra, đi nhiễu quanh đức Phật ba vòng, rồi đến trước Như Lai, chắp tay quỳ xuống, gối bên hữu chấm sát đất, cung kính bạch với đức Phật rằng: - Hi hữu Thế Tôn! Hi hữu Thế Tôn! Được làm thân người là khó, như con rùa gặp bộng cây nổi, nhưng được gặp Phật ra đời còn khó gấp muôn phần. Gặp Phật ra đời đã khó, nhưng được nghe chánh pháp lại còn khó gấp muôn phần. Được nghe chánh pháp đã khó, nhưng làm thế nào để nương theo giáo nghĩa (1) tu tập lại còn khó gấp vô lượng phần.

   

Bởi vì sao? Theo chỗ con xét nghĩ thì trong tám muôn bốn ngàn pháp màu mà Như Lai đã chỉ dạy, nhằm đưa hết thảy chúng sinh ngộ nhập Phật tri kiến, phải có một pháp màu cứu vớt những hạng chúng sinh tội khổ, mê đắm, xấu ác. Hôm nay, con phụng vì hết thảy chúng sinh tội khổ nơi thời mạt pháp, cũng như phụng vì các bậc trưởng giả, cư sĩ, Bà la môn, Sát đế lợi, Thủ đà la (2) tại thành Vương Xá này mà khẩn cầu đức Thế Tôn rủ lòng thương xót ban cho chúng con một cách thức tu hành thật dễ dàng để giải thoát, một con đường thật vắn tắt để hoàn thành Phật trí. 

    

Như đức Thế Tôn từng chỉ dạy, đời mạt pháp các chúng sinh trong cõi Diêm Phù Ðề cang cường, ngỗ nghịch, tâm tạp, nghiệp nặng, mê đắm ngũ dục, không biết hiếu thuận cha mẹ, không biết cung kính sư trưởng, không thực lòng quy y Tam Bảo, thiếu năng lực thọ trì năm giới cấm, làm đủ mọi chuyện tệ ác, phỉ báng thánh nhân v.v... 

    

Cho nên con suy ngẫm như thế này: phải có một môn tu thật giản đơn, thật tiện lợi nhất, dễ dàng nhất để tất cả những chúng sinh kia khỏi đọa vào các đường ác, chấm dứt luân chuyển sinh tử khắp ba cõi, được thọ dụng pháp lạc, sớm bước lên địa vị Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.

 

Vì sao như vậy? Sau khi Như Lai diệt độ khoảng 1000 năm trở đi, đó là thời kỳ chánh pháp cuối cùng, các kinh điển dần dần ẩn mất, chúng sinh căn cơ hạ liệt, ám độn, ngã chấp sâu dày, tâm tưởng thô trệ, tà kiến lan tràn, say sưa làm các nghiệp ác để tự vui. Do đó tự nhiên chiêu cảm động đất, đói kém, tật dịch, binh đao, bão lụt, mất mùa, gió bão, thời tiết viêm nhiệt bức não. Thánh nhân lại không xuất hiện. Tuổi thọ giảm dần. Nếu ai phát khởi tâm chí tu hành cũng không thể tu tập các môn Giới luật, Thiền định, Trí tuệ, Giải thoát vô lậu. Không thể tu tập Tứ Niệm Xứ, Bát Chánh Ðạo, Tứ Chánh Cần. 

  

Không thể tu tập Tứ Vô Lượng Tâm, không thể tu tập sáu Ba La Mật, hoặc là Bố Thí Ba La Mật, nhẫn đến Trí Huệ Ba La Mật. Không thể tu tập bằng các phương tiện của Quán Trí để ngộ nhập Phật tri kiến. Không thể chứng đắc Tu Ðà Hoàn, Tư Ðà Hàm, A Na Hàm, A La Hán. 

    

Không thể chứng nhập Sơ Thiền nhẫn đến Tứ Thiền. Không thể chứng nhập Niết Bàn diệu tâm. Không thể vào sâu vô lượng tam muội, thần thông du hí của chư Bồ tát, nhẫn đến không thể thâm nhập cảnh giới thù thắng trang nghiêm của chư Phật, hoặc rải cỏ nơi đạo tràng, đánh rền trống pháp hàng phục ma quân.

 

Vì lý do như vậy mà đệ tử chúng con xét nghĩ nên phát khởi Vô Thượng Bồ Ðề Tâm. Con khẩn cầu đức Thế Tôn chỉ dạy giáo pháp nhiệm mầu, mong lợi lạc hết thảy tội khổ chúng sinh ở thời kỳ cuối cùng của chánh pháp.

  

Trưởng giả Diệu Nguyệt vừa dứt lời thưa thỉnh thì bỗng đại địa chấn động mãnh liệt. Khắp hư không, hoa Mạn đà la, hoa Ma ha mạn đà la, hoa Mạn thù sa, hoa Ma ha mạn thù sa tuôn rắc như mưa. Từ phương Tây, xuất hiện vô lượng vô số hằng hà sa đám mây ngũ sắc, mây chiên đàn hương, mây y phục cõi trời, mây âm nhạc cõi trời, mây hoa sen báu trắng bạch v.v... Trong những đám mây ấy phát ra tiếng sấm lớn, đồng một lúc chầm chậm bay về, nhóm lại phía trên đỉnh núi Kỳ Xà Quật. Tất cả đại chúng đều vui mừng, hớn hở, tự biết ấy là điềm lành chưa từng có. 

 

Bấy giờ, quốc mẫu Vi Đề Hy hoàng thái hậu từ trong đại chúng, bước ra trước Phật đảnh lễ xong, bèn chắp tay thưa:
 

- Bạch đức Thế Tôn, vì duyên cớ gì mà hiện điềm lành này? 

 

Liền khi ấy, đức Như Lai từ nơi tướng lông trắng chặng giữa chân mày phóng ra hào quang chiếu khắp vô lượng vô biên vi trần số thế giới mười phương mà nói lời này:

 

- Lành thay! Các thiện nam tử, thiện nữ nhân! Nay Ta vì lời thưa thỉnh của Ưu bà tắc Diệu Nguyệt và của Ưu bà di Vi Đề Hy, lại nương theo bản nguyện của vô lượng vô số bất khả thuyết chư Phật mà tuyên dương giáo nghĩa bí mật vi diệu tối thắng đệ nhất nhằm cứu độ hết thảy chúng sinh ở trong thời kỳ Phật pháp cuối cùng. 

  

Giáo nghĩa này, chư Phật quá khứ đã nói, chư Phật hiện tại đang nói và chư Phật vị lai sẽ nói. Tất cả chúng sinh đời mạt pháp sẽ nương nơi giáo nghĩa này mà được giải thoát rốt ráo, mãi mãi xa lìa các đường ác, hiện đời an ổn, sau khi mạng chung được sinh về cõi Phật, chứng ngôi vị Bất Thối, dần dần tu tập cho đến khi đắc A nậu Đa la Tam miệu tam Bồ Đề. 

  

Này Cư sĩ Diệu Nguyệt, hãy chăm chú lắng nghe, Ta sẽ vì ông mà nói: Diệu Nguyệt! Tất cả các loại chúng sinh chết ở nơi đây, rồi sinh sang nơi kia, sống chết nối nhau không dứt. Mỗi khi sắp mạng chung thì các loại nghiệp lành dữ trong một đời hiển hiện rõ ràng.

 

Chúng sinh nào sống thuần bằng tư tưởng (3) thì bay lên hóa sinh nơi các cõi Trời. Nếu trong sự thuần tưởng lại gồm cả phước huệ và tịnh nguyện thì tự nhiên tâm trí khai mở mà được thấy mười phương chư Phật, tùy theo nguyện lực của mình mà sinh về Tịnh độ.

 

Chúng sinh nào tình ít, tưởng nhiều thì vào hàng phi tiên (4), bay đi nhẹ nhàng nhưng không được xa bằng hạng thuần tưởng. Chúng sinh nào tình và tưởng bằng nhau thì sẽ phát sinh vào cõi người (5). Bởi vì sao như vậy? Bởi tưởng là thông sáng, tình là mê tối. Nếu tình và tưởng ngang bằng nhau thì không bay lên và cũng không đi xuống. Chúng sinh nào tình nhiều, tưởng ít thì sẽ lạc vào bàng sinh (6), nhẹ thì làm chim bay, nặng thì làm thú chạy.

    

Chúng sinh nào có bảy phần tình và ba phần tưởng sẽ bị đọa làm thân ngạ quỷ (7), thường chịu nóng bức, đói khát trải qua trăm ngàn kiếp dài lâu. Chúng sinh nào có chín phần tình và một phần tưởng thì sẽ đọa vào địa ngục. Nhẹ thì vào nơi địa ngục hữu gián, nặng thì sẽ đọa vào ngục Đại A Tỳ (8). 

 

Hình ảnh đức Phật trì niệm danh hiệu Phật A Di Đà để trợ duyên cho một phật tử lúc đang vào thân trung ấm.

   

Nếu ngoài cái tâm thuần tình ấy còn kiêm thêm các trọng tội như hủy giới cấm của Phật, khinh báng Đại Thừa, thuyết pháp sai lầm, đắm tham của tín thí, lạm thọ sự cung kính và phạm vào thập ác, ngũ nghịch thì sẽ chiêu cảm quả báo luân chuyển sinh về các ngục Vô Gián (9) ở khắp mười phương.
 

Này Diệu Nguyệt cư sĩ! Trong thời kỳ chánh Pháp diệt tận, chúng sinh nơi cõi Diêm Phù Ðề tình nhiều tưởng ít, tâm địa bỏn sẻn, tham lam ghét ganh, các căn lành phước báo kém cỏi. Lúc sinh tiền thọ nhận đủ loại nghiệp dữ, sau khi mạng chung sẽ chịu các quả báo đau khổ trong ba nẻo ác dữ với hạn kỳ lâu dài. 

   

Vì thế mà chư Phật khắp mười phương xót thương vô cùng, luôn luôn tìm cách cứu trừ khổ não cho các hạng chúng sinh kia. Các đức Như Lai hiện ra nơi đời, mục tiêu chân chính là không chỉ tuyên dương diệu pháp bí ảo sâu xa cho những bậc thánh giả, hiền nhân mà mục tiêu khẩn thiết nhất vẫn là nhằm cứu vớt các loại chúng sinh tội khổ, nặng về tình, nhẹ về tưởng. 

 

Chư Phật đã dùng Phật nhãn quán sát khắp mười phương, thấy rõ nghiệp lực chúng sinh lành dữ không đồng đều, thấy thân tướng và cảnh giới của chúng sinh xấu tốt có sai biệt. Nhưng điểm sinh khởi chẳng rời sát na tâm sinh diệt, chỗ hội quy cũng không rời sát na tâm sinh diệt. Muốn hàng phục và chuyển biến cái sát na tâm sinh diệt ấy, thì không có pháp nào hơn là pháp Niệm Phật. 

 

Diệu Nguyệt cư sĩ! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào đủ lòng tin thì chỉ cần chuyên nhất xưng niệm danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật suốt cả sáu thời trong ngày và giữ trọn đời không thay đổi thì hiện tiền chiêu cảm được y báo và chánh báo của Phật A Di Đà ở cõi Cực Lạc. Lúc lâm chung cố giữ sao cho được 10 niệm tiếp nối liền nhau, lập tức vào Phổ Ðẳng tam muội (10) của đức A Di Đà được Phật tiếp dẫn về Tịnh độ Tây Phương; vĩnh viễn xa lìa các đường ác, không còn sinh tử luân hồi. Đó gọi là quả vị Bất Thối Chuyển. Từ lúc ấy nhẫn đến về sau vượt qua Thập Ðịa, chứng Vô Thượng-Giác (11).

  

Diệu Nguyệt nên biết, đây thật là pháp vi diệu thù thắng đệ nhất (12) mà chư Phật dùng để cứu độ khắp hết thảy chúng sinh. Đây thật là môn tu thích đáng, khế hợp mọi căn cơ mà chư Phật dùng để đưa hết thảy muôn loài xa rời nẻo khổ, chứng đắc Niết Bàn tại thế, thành Phật trong một đời (13). Đây là môn tu đại oai lực, đại phước đức mà chư Phật giúp chúng sinh vượt thắng thân phàm phu mà thâm nhập cảnh giới chân thường (14).

     

Đây là môn tu đại Bát Nhã (15), đại Thiền Ðịnh (16) mà chư Phật dùng làm thuyền bè đưa hết thảy chúng sinh qua thấu bờ bên kia, không còn sinh già bệnh chết, hoàn toàn hưởng dụng pháp lạc.

 

Đây là môn tu đại trang nghiêm, đại thanh tịnh mà chư Phật dùng để đưa hết thảy chúng sinh vào giới luật, nhiếp chúng sinh vào oai nghi, an ổn khoái lạc (17).

 

Đây là một môn tu đại nhu hòa, đại nhẫn nhục mà chư Phật giúp hết thảy chúng sinh tự tại giữa khổ và vô thường mà thành tựu Tri Kiến Phật (18). Đây là môn tu đại Bồ Ðề, đại siêu việt mà chư Phật dùng làm cứu cánh để giúp hết thảy chúng sinh thành Phật như Phật ngay trong một kiếp (19).

   

Đây là môn tu đại từ bi, đại dũng mãnh mà chư Phật dùng để giúp chúng sinh có được cái tâm bằng tâm chư Phật, có được cái nguyện bằng nguyện chư Phật, mau chóng vượt qua địa vị phàm phu và tự chứng pháp thân từng phần (20).

   

Lại nữa, trong quá khứ vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp nhẫn lại đến nay, chư Phật cũng chỉ dùng một pháp Niệm Phật này để độ khắp chúng sinh. Trong hiện tại cũng có vô lượng vô biên hằng hà sa chư Phật ở mười phương cũng đang thuyết giảng giáo nghĩa Niệm Phật này để rộng cứu vớt chúng sinh.

    

Trong đời vị lai, tất cả chư Phật nếu muốn cứu vớt hết mọi chúng sinh thì cũng phải do nơi pháp Niệm Phật này. Do đó mà Như Lai bảo rằng Niệm Phật là vua của tất cả các Pháp (21).

     

Này Diệu Nguyệt cư sĩ, hãy một lòng tin nhận lời dạy của Như Lai. Hãy ghi nhớ kỹ lời dạy của Như Lai. Hãy thực hành theo lời dạy của Như Lai, và hãy chứng đắc pháp nhẫn tối tôn, tối diệu, đệ nhất này mà Như Lai đã ban cho(22).

   

Vì sao vậy? Vì pháp của Như Lai là chân thật, là giải thoát, là an vui, là thuận theo sở cầu, sở nguyện của mọi chúng sinh. Vì pháp của Như Lai là vắng lặng, không dính mắc, vô cấu nhiễm, thuận theo tình và tưởng của chúng sinh mà vẫn giúp chúng sinh thành tựu địa vị Phật Đà, không bị hư hoại, cho nên chẳng cần phải chán ghét lìa bỏ thế gian, ở trong chỗ ràng buộc mà tâm vẫn tự tại, thọ dụng pháp lạc; và sau khi lâm chung được sinh về cõi Phật A Di Đà (23).

 

Ảnh Pháp sư Cư sĩ Quảng Tịnh dự lễ An vị tượng Phật A Di Đà ở chùa An Phúc, Thủy Nguyên Hải Phòng tháng 6 năm 2016.

    

Các bạn đồng tu thân mến! 
 

Tôi chúc các bạn vừa làm việc công đức, lại tinh tấn trì niệm danh hiệu Phật A Di Đà, một lòng cầu nguyện vãng sinh Tây Phương Cực Lạc thì khi mạng chung Phật A Di Đà cùng đức Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát cùng hàng Thánh Chúng đến tiếp dẫn bạn, kẻ trước người sau đều được về Tây Phương Cực Lạc sinh trên sen báu, tu hành một đời thành Bồ tát, thành Phật.

   

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. 

Nam mô A Di Đà Phật.

Nam mô Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát, thùy từ chúng giám.

      

Ngày 04 tháng 05 năm 2017.

                     

Chú giải: Phẩm thứ nhất Duyên Khởi, Kinh Niệm Phật Ba La Mật.
 

1. Được nghe chánh pháp đã khó, nhưng làm thế nào để nương theo giáo nghĩa tu tập lại còn khó gấp vô lượng phần: 

     

Ở đây ngài Diệu Nguyệt nhắc lại lời dạy của Phật, trì tụng kinh là phải đi sâu vào từng câu, từng chữ, từng dòng, đọc thật rõ ràng để tâm thâm nhập vào ý nghĩa của kinh, lời nói của Phật, chứ không phải tất cả đọc như con vẹt rồi không hiểu đoạn kinh Phật nói cái gì. Làm như vậy thì tu cả đời cũng chẳng thành tựu, vì tụng như vậy như nước đổ tầu lá khoai, tu từ trẻ đến già cũng không hiểu kinh điển. 

 

Đức Phật rất phê phán kiểu tụng kinh đại khái này và khuyến thỉnh mọi người phải tụng kinh từ tốn, có thể một người tụng đọc, người khác lắng nghe theo dõi rồi thâm nhập. Sau mỗi buổi tụng kinh là đàm luận Phật pháp để đoạn kinh văn đó ý nghĩa ra sao? Phật nói gì và áp dụng ra sao trong đời sống hàng ngày. Đó mới đúng với ý nghĩa trì tụng kinh, còn đọc ào ào là đọc không phải trì. Đọc như đọc truyện vậy, tu hành đây không phải là đọc kinh kiểu đọc truyện, đây không phải là phương pháp tụng kinh.

     

Khi xưa các vị chân tu thường thích tụng kinh một mình, không thích tụng đông người, tụng xong họ ghi lại những gì mình hiểu và điều chưa hiểu để hỏi Phật hay các bậc thiện tri thức giảng giải cho mình. Cách tu này rất hiệu quả nên thời đó nhiều người chứng đắc. 

     

Nhưng nếu các vị sư, tăng, ni, hay phật tử nào hàng năm vào học hạ, đã được nghe các vị Bồ tát, các vị Pháp sư, Thiện tri thức giảng thấu đáo kinh này rồi thì mọi người như thế có thể cùng nhau đồng tụng bình thường.

 

2. Bậc trưởng giả, cư sĩ, Bà la môn, Sát đế lợi, Thủ đà la: 

 

Ở Ấn Độ chia theo tầng giai cấp

CÁC BÀI VIẾT KHÁC

Như Lai ca ngợi hạnh đầu-đà

Đầu-đà (dhuta) là tịnh hạnh chứ không phải khổ hạnh hành xác. Thực hành hạnh đầu-đà tuy khắc khổ nhưng hỗ trợ rất lớn cho hành giả trong tiến trình tu tập. Thế Tôn luôn tán thán hạnh đầu-đà, vì hạnh lành này trợ duyên tích cực cho hành giả hướng đến thành tựu giới-định-tuệ.

Khi trong tim có Phật...

Nhìn lại Phật giáo của chúng ta đã du nhập và thăng trầm cùng dân tộc Việt Nam trên dưới 20 thế kỷ qua thì không có lý do gì mà lễ Phật đản lại không có sức hút với đông đảo người dân như vậy. Muốn thu hút mọi người tiếp cận với ý nghĩa tốt đẹp và an lành của mùa lễ Phật đản thì chính những người làm đạo (chư...

Đức Phật dạy về đời sống gia đình

Hiếu dưỡng cha và mẹ/ Nuôi dưỡng vợ (chồng) và con/ Làm nghề không rắc rối/ Là điềm lành tối thượng

Cái bóng

Có cái bóng làm người được chở che thấy lòng ấm áp hạnh phúc an lành thật sự, nhưng cũng có cái bóng giả tạo cho người dựa vào cũng thấy ủi an thiện cảm nhưng không thật chắc bền lâu. Cái bóng lớn hay nhỏ, xa hay gần cũng là nó.

Phá bỏ thai nhi bị dị tật có chịu quả báo nghiệp tội không?

Với nhà Phật ngay từ bây giờ bạn nên niệm Quán Thế Âm Bồ tát, tưởng niệm, nhìn ngắm Quán Thế Âm Bồ tát và để tâm niệm hồi hướng chia sẻ cho thai nhi, hằng ngày phải siêng năng tụng niệm cho đến khi sinh, bạn sẽ trọn vẹn là một người mẹ kính yêu của đứa con bất hạnh, việc lành sẽ đến với...
  Danh tự nổi bật

Chùa Bửu Pháp

Chùa Đại Tòng Lâm

Chùa Linh Phước

Chùa Linh Ẩn

Chùa Vạn Hòa

© Copyright 2017 COIPHAT.NET - DESIGN BY TRIỆU TÍN

loading...
loading...